Tháng 10, 2017
Thứ tư
Thứ Ba, ngày 10/10/2017 00:00 AM (GMT+7)

MIG-21 xung trận, phá vỡ ưu thế vượt trội của Không quân Mỹ

Khi đối đầu với MiG-21, F-4 mất dần những ưu thế tuyệt đối của mình và bắt đầu chịu các tổn thất nặng nề. Từ tháng 5 đến tháng 12 năm 1966, lực lượng Không quân Mỹ trong các trận đánh trên không đã mất 47 máy bay, phía Không quân Việt Nam tổn thất 12 máy bay.

Xem thêm các kỳ:

Những cựu phi công Việt-Mỹ từng đối đầu sinh tử trên bầu trời miền Bắc Việt Nam suốt những năm tháng chiến tranh vừa có dịp gặp mặt tại San Diego, Mỹ từ 21-24/9/2017. Những đối thủ một mất một còn ngày nào, giờ nắm tay nhau ôn lại chuyện xưa. Dù mái đầu đã bạc, dáng đi đã còng, các cựu phi công lừng danh của Việt Nam vẫn thư thả bên những đồng nghiệp Mỹ nay đã lên chức ông. Họ đang góp phần vào công cuộc gác lại quá khứ, hướng tới tương lai tốt đẹp hơn cho 2 nước, 2 dân tộc. Nhân dịp này, Tạp chí Khám phá trân trọng giới thiệu loạt bài Những bí ẩn của chiến tranh không quân Việt Nam. Đây là tư liệu của nhà nghiên cứu độc lập người Nga, ông A.I.Trernhusev.

Bắt đầu năm 1966 đánh dấu một giai đoạn mới của Không quân cả hai bên, ở giai đoạn này, Không quân Mỹ sử dụng các phương thức tác chiến kỹ thuật mới và đồng thời cả lực lượng Không quân và Không quân Hải quân Mỹ xuất hiện nhiều loại máy bay tiêm kích mới.

Nhờ có các thiết bị phát hiện, gây nhiễu và chế áp điện tử, Không quân Mỹ đã khống chế được  tầm bay thấp và có thể tổ chức được các phi đoàn máy bay với số lượng lớn, chọc thủng tuyến phòng không và tấn công ồ ạt các mục tiêu ở tầm trung trong khoảng cách gần mục tiêu.

MIG-21 xung trận, phá vỡ ưu thế vượt trội của Không quân Mỹ - 1

F-4 Phantom II mang theo tên lửa không đối không tầm ngắn và tên lửa đối không tầm trung.

Cùng với việc nhân được các máy bay MiG-17 từ Liên bang Xô Viết và Trung Quốc, từ năm 1966, Không quân Việt Nam sử dụng một số máy bay MiG-17 cải tiến, dù không được phát triển rộng rãi.

Đó là các máy bay MiG-17PF (J-5A) với radar “Emerald” và 3 khẩu pháo HP-23 mm. Theo đơn đặt hàng của Việt Nam, Tiệp Khắc cũng chế tạo mẫu máy bay MiG-15, trang bị hai khẩu 23mm và tên lửa R-3S ở vị trí của pháo 37mm, có thiết bị dò tìm hồng ngoại. Sau này, vào năm 1968, Không quân Việt Nam sử dụng MiG 17F với pháo tiêu chuẩn và hai tên lửa tự dẫn R-3S.

MIG-21 xung trận, phá vỡ ưu thế vượt trội của Không quân Mỹ - 2

MiG-21 với tính năng bay ngang ngửa F-4, nhưng radar và vũ khí đều thua kém.

Theo một số nguồn thông tin không chính thức, tháng 2 năm 1966, Không quân Việt Nam tiếp nhận máy bay siêu âm F-6 (MiG-19) sản xuất tại Trung Quốc, có tốc độ cao và trang bị vũ khí mạnh hơn MiG-17, nhưng không được sử dụng rộng rãi. F-6 được dùng nhiều hơn vào mùa thu năm 1972 khi chiến tranh trên không đã chấm dứt.

Cú shock thật sự của người Mỹ chỉ bắt đầu khi máy bay MiG-21 thực sự tham chiến. Từ những năm 1965, Liên bang Xô viết có đề nghị Trung Quốc cho phép triển khai các trung đoàn MiG- 21 ở địa phận Trung Quốc để bảo vệ bầu trời Hà Nội và Hải Phòng nhưng bị từ chối.

Máy bay MiG-21 trực tiếp tham gia vào ngày 23 tháng 4 không có kết quả. Ngày 26 tháng 4, Không quân Mỹ bắn hạ 1 chiếc MiG-21 đầu tiên. Không quân Việt Nam sử dụng chủ yếu MiG-21PF-V (mẫu số 76-MiG-21PR đã được nhiệt đới hóa, các thiết bị được mạ lớp vật liệu chống rỉ, sau này là MiG-21PFM (Mẫu 94 với ghế phi công kiểu KM-1), trong biên chế của Không quân Việt Nam còn có mẫu MiG-21 F-13 (Mẫu 74 do Tiệp Khắc sản xuất).

Đối thủ quan trọng lúc này của F-4 Phantom II là máy bay siêu âm MiG 21F-13 một phần do Tiệp Khắc sản xuất và MiG-21PF đã được nhiệt đới hóa. Sử dụng radar bám mục tiêu tương tự như máy bay F-4, MiG-21 sử dụng tên lửa có điều khiển và tự dẫn hồng ngoại R-3S hoặc sử dụng các ống phóng rocket không điều khiển S-5.

Bộ Tư lệnh Không quân và Hải quân Mỹ vẫn đặt toàn bộ hy vọng vào máy bay chiến thuật F-4 hiện đại, có vũ khí mạnh, radar điều khiển tốt, có tốc độ cao và khả năng tăng tốc nhanh cùng với những kỹ chiến thuật chống MiG thành thạo. Về lý thuyết chiến trường, F-4 mạnh hơn MiG-21 nhiều lần.

MIG-21 xung trận, phá vỡ ưu thế vượt trội của Không quân Mỹ - 3

Các phi công MiG-21 trao đổi kinh nghiệm chiến đấu (Ảnh: Cuốn "Những trận không chiến trên bầu trời Việt Nam (1965-1975) nhìn từ 2 phía).

Nhưng từ khi đối đầu với MiG 21, F-4 mất dần những ưu thế tuyệt đối của mình và bắt đầu chịu các tổn thất nặng nề. Từ tháng 5 đến tháng 12 năm 1966, lực lượng Không quân Mỹ trong các trận đánh trên không đã mất 47 máy bay, phía Không quân Việt Nam tổn thất 12 máy bay.

Thông số cơ bản xác định tính cơ động của máy bay tiêm kích là tốc độ bẻ góc, trong đó 85% sự tăng tốc là giảm tải trọng riêng trên cánh, và chỉ có 15% được sử dụng để lấy góc nghiêng. Cơ động là nền tảng của phòng thủ, và phòng thủ tốt là đảm bảo tốt hệ số sống còn trong các trận không chiến.

Tải trọng riêng trên cánh của MiG 21 là 340kg/cm2, còn tải trọng của F-4 là 490kg/cm2, do đó khả năng sống còn của MiG 21 là 0,93 còn của F-4 là 0,83.

MIG-21 xung trận, phá vỡ ưu thế vượt trội của Không quân Mỹ - 4

Trung tướng AHKQ Phạm Phú Thái tặng cuốn Hồi ký Lính bay cho Chỉ huy căn cứ Không Quân Miramar Hoa Kỳ trong dịp gặp mặt mới đây tại San Diego, Mỹ. Ảnh: Vũ Văn Anh

Khám Phá
Xem thêm các kỳ:

Tin đọc nhiều

Những cuộc chiến không cân sức Mùa xuân và mùa hè năm 1972, có 456 máy bay của quân đội Mỹ...
F4 Con ma chịu thua Én bạc MIG-21 Sau khi đưa MiG-21 vào trận, từ tháng 5 đến tháng 12/1966,...
Phi công Việt Nam biến hóa tính năng cho tiêm kích MIG Nếu tuần cuối cùng của tháng 7, có 11 máy bay bị bắn hạ, thì...
MIG-21 xung trận, phá vỡ ưu thế vượt trội của Không quân Mỹ Khi đối đầu với MiG-21, F-4 mất dần những ưu thế tuyệt đối...