Tháng 01, 2019
Thứ ba
Thứ Ba, ngày 12/02/2019 14:12 PM (GMT+7)

Nghĩ về câu đối người xưa

Ngày nay, mỗi lần nhắc đến cái học ngày xưa, chúng ta vẫn thường mắc vào khuôn sáo cũ mà cho rằng đó là một cái học từ chương, trọng khoa cử và không thực dụng. Nhưng liệu có khách quan và công bằng không khi phê phán như vậy?

Vì xin đừng quên rằng xưa, nhà nho cũng đã biết tính toán và đời Hồ Quý Ly đã đưa toán học vào chương trình giáo dục.

Mặc dù không thể chối cãi rằng cái học xưa là cái học trọng văn, nhưng chính trong những thi, phú… đó chúng ta cũng thấy được người xưa đã vận dụng trí não sắc bén, nhanh nhạy, linh hoạt và hàm súc như thế nào.

Và một trong những thể loại đặc sắc của nền văn chương xưa, ắt hẳn là câu đối.

Nghĩ về câu đối người xưa - 1

Ảnh minh họa quan trạng Mạc Đĩnh Chi đang ứng đối với vua.

Có lẽ đối là một thể loại văn chương đặc thù của các nước đồng văn Đông Á. Phương thức của đối nằm ngay trong tên gọi của nó, nghĩa là làm sao dùng một câu tương ứng nhưng có nội dung tương phản và hòa hợp vần điệu để đối lại một câu cho trước.

Người ra câu đối thường nghiền ngẫm có khi thật lâu để tạo “sức nặng” cho câu đối của mình.

Và quy luật hầu như là bắt buộc, người đối lại phải nhanh, ngay trong cuộc đối. Do thời gian hạn hẹp như vậy nên đây là điều vô cùng khó khăn cho người đối lại, vì còn phải vận dụng trí nhớ, tầm hiểu biết và óc linh hoạt.

Đây chính là nét đặc sắc và hào hứng nhất của đối. Và chính là những câu ứng đối nhanh nhạy này lại là những câu đối tuyệt vời để lại cho đời sau.

Xin bắt đầu bằng một câu thật ngắn và tưởng chừng đơn giản, tục truyền của Trạng Quỳnh thuở bé với ông Tú Cát:

Trời sinh ông Tú Cát.

Đất nứt con bọ hung.

Còn gì tuyệt vời hơn khi từng cặp chữ của hai vế đối chọi nhau chan chát: trời/đất, ông/con, cát/hung…

Nhưng điểm lý thú nhất là vế đối của Trạng Quỳnh ngoài việc đối chỉnh còn hàm ý khinh miệt ông Tú Cát hợm hĩnh khi đối Tú Cát (nghĩa là tốt đẹp) với con bọ hung xấu xa dơ bẩn.

Hoặc một vế đối khác cũng của Trạng Quỳnh nhằm xỏ xiên một viên quan hống hách:

Miệng kẻ sang có gang có thép.

Đồ nhà khó vừa nhọ vừa thâm.

Ý tứ, câu chữ chuẩn không cần chỉnh, mà xỏ xiên vô cùng. Vì ai cũng biết, người miền bắc dùng chữ “đồ” để chỉ “cái gì” rồi. Nhưng thà “đồ” của nhà sang còn đỡ, còn đây lại là “đồ” của nhà nghèo khó!

Trên đây mới chỉ là những câu chữ Việt còn tương đối đơn giản. Trong ứng đối của các bậc thâm nho với nhau còn nhiều câu tinh tế phức tạp hơn nhiều. Như câu đối qua ải của Mạc Đĩnh Chi khi đi sứ Trung Hoa:

Quá quan trì, quan quan bế, nguyện quá khách quá quan.

Tiên đối dị, đối đối nan, thỉnh tiên sinh tiên đối.

(Nghĩa là qua cửa ải chậm, quan coi cửa đóng cửa, mong quý khách qua cửa - Ra vế đối trước thì dễ, đối lại câu đối đó thì khó, mời tiên sinh đối trước). Câu đối đã sít sao lại còn dùng điệp ngữ hiểm hóc nên đối lại được thì thật là tuyệt tác.

Người xưa còn có một loại câu đối khác áp dụng phép chiết tự lý thú tuyệt vời như đôi câu đối của Phạm Đình Trọng và Nguyễn Hữu Cầu:

Ngọc tàng nhất điểm, xuất vi vương, nhập vi chúa.

Thổ triệt bán hoành, thuận giả thượng, nghịch giả hạ.

(Nghĩa: Chữ ngọc 玉 có một điểm, bỏ điểm này ra thì thành chữ vương 王, nhập lại vào thì thành chữ chúa 主 - Chữ thổ 土 nếu lấy nửa nét ngang ra để thuận thành chữ thượng 上, để ngược thành chữ hạ下. Ý: Người tài giỏi tôn quý ra ngoài thì làm vua, ở trong thì làm chúa - Còn nơi người thường thì phải thuận theo đạo lý, nếu đối ngược lại thì sẽ là kẻ thấp kém).

Ngoài ý tứ thâm trầm của người làm quan triều chê người làm giặc thì cách chiết tự để thành câu đối quả thật tuyệt vời.

Trở lại câu đối dùng điệp ngữ, có một giai thoại khá lý thú về Nguyễn Duy Hiệu, anh hùng chống Pháp tại Quảng Nam. Thuở ấy, tại tỉnh Quảng Nam có một làng nhỏ vùng hẻo lánh, nằm giữa đồng cỏ tranh nên gọi là làng Đồng Tranh, rất tự hào về văn nghiệp của mình. Vì vậy tại đình làng có yết một vế đối thách thức như sau:

Văn Đồng Tranh, võ Đồng Tranh, văn võ đồng tranh long hổ bảng.

Một hôm Nguyễn Duy Hiệu, cải trang thành người bán chiếu để tiện đi đó đi đây chiêu mộ nghĩa sĩ chống xâm lược, ghé qua làng. Thấy vế thách đối, ông bèn gióng một hồi trống mời làng.

Các chức sắc của làng vội khăn áo chạy ra, trông thấy anh bán chiếu thì có vẻ bực bội và khinh thị nhưng khi nghe vế đối của ông thảy đều giật mình:

Quân Gia Hội, thần Gia Hội, quân thần gia hội phụng hoàng trì.

Thấy khẩu khí và phong thái như vậy các cụ mới biết ra được trước mặt mình là anh hùng Nguyễn Duy Hiệu.

Quả ít thấy cặp vế đối nào lại tài tình như vậy. Chỉnh từng chữ, từng ý và cả tổng thể: văn võ/quân thần, đồng tranh/gia hội, long hổ/phụng hoàng, tranh bảng đỗ/cùng giúp vua…

Lại có những câu đối dùng toàn từ chuyên môn hoặc vật liệu trong một nghề nào đó thật tài tình cho đến… Trạng Quỳnh cũng phải chịu:

Lên phố mía, gặp cô hàng mật, cầm tay kẹo lại hỏi thăm đường.

(Kẹo, tiếng địa phương còn có nghĩa là kéo lại). Đã mía, mật lại kẹo, đường… thì Trạng Quỳnh thua là phải!

Hay như câu:

Hai cha con ông thầy thuốc về quê, gánh một gánh hồi hương, phụ tử.

Đã về quê lại còn hồi hương (tên thuốc), đã cha con lại còn phụ tử (cũng tên thuốc), tuyệt! Tuyệt hơn nữa là đã có đối ngay trong một vế đối giữa hai nhóm từ thuần Việt và Hán Việt: cha con về quê/hồi hương phụ tử. Thật là “đối trung hữu đối”, trong đối có đối!

Cũng nên nhắc lại một giai thoại về Hồ Quý Ly, nhờ câu đối mà được công chúa. Tục truyền tình cờ có hôm Hồ Quý Ly đọc được một câu của ai đó viết trên bãi sông, thấy câu tao nhã và gợi cảm nên nhẩm thuộc lúc nào không hay:

Quảng Hàn cung lý nhất chi mai.

Sau, Quý Ly làm quan triều Trần. Một hôm cùng các quan hầu cận vua đến điện Thanh Thử, thấy vườn quế trước cung xanh ngắt, hữu tình, vua bất giác cảm khái đề thơ cho các quan đối:

Thanh Thử điện tiền thiên thụ quế.

Các quan còn đang lúng túng thì Quý Ly sực nhớ đến câu xưa nên đem ra đối lại. Chẳng ngờ khi ráp hai câu lại thành một câu đối đẹp như thơ:

Thanh Thử điện tiền thiên thụ quế.

Quảng Hàn cung lý nhất chi mai.

Tạm dịch:

Thanh Thử điện đây ngàn gốc quế.

Quảng Hàn cung đó một cành mai.

Điều không ngờ, vua có một nàng công chúa tên là… Nhất Chi Mai, ngụ trong cung Quảng Hàn, dân gian không ai biết. Thấy sự trùng hợp kỳ lạ, vua cho là có duyên số gì chăng nên gả công chúa cho Quý Ly. Thế là nhờ câu đối mà nên duyên, âu cũng là giai thoại đẹp để lại cho đời sau.

Đến đời Lê, Lương Thế Vinh cũng để lại cho đời sau một câu đối tuyệt bút. Chuyện kể rằng ông cùng các quan theo hầu vua Lê Thánh Tông đi chơi chùa. Thấy khách vào đột ngột, nhà sư đang tụng kinh giật mình đánh rơi dùi mõ. Một viên quan nhanh nhảu nhặt trao lại cho sư. Tức cảnh, vua bèn ra câu đối:

Đường thượng tụng kinh, sư sử sứ.

Các quan đều bối rối, nhất là ba chữ sư sử sứ quái ác. Chợt Lương Thế Vinh, có lẽ do trước đó quân thần đã cùng nhau vui cuộc rượu, nên lấy cớ say, lảo đảo bước ra.

Sợ trạng say quá nên vua cho người gọi phu nhân quan trạng đến để đưa chồng về. Nhưng khi phu nhân vừa dìu chồng quay ra, vua chợt nghĩ nếu không có được câu đối của người kỳ tài như Trạng Lương thì thật tiếc, nên bắt Trạng phải đối được mới cho về. Ông bèn quay lại tâu:

- Thưa, thần đã đối rồi đấy!

Thấy vua ngạc nhiên, lúc bấy giờ ông mới ung dung giải thích:

- Thưa, đối là: Đình tiền túy tửu, phụ phù phu.

(Nghĩa là: Trên đàn tụng kinh, sư sai khiến sứ - Trước sân say rượu, vợ đỡ chồng). Ôi, mấy chữ sư sử sứ và phụ phù phu thật là tài tình!

Đời sau, do hoàn cảnh lịch sử thay đổi, văn chương Hán học không còn, nên thể loại đối chỉ còn là chút gợi nhớ để mua vui nhân ngày xuân, thường mang nét dí dỏm, nhưng đúng là “hậu sinh khả úy”, cũng độc chiêu không kém, như câu điệp ngữ sau:

Con ngựa đá con ngựa đá con ngựa đá không đá con ngựa.

Anh buôn lừa anh buôn lừa anh buôn lừa không lừa anh buôn.

Nếu không ngắt đúng câu như sau, thì chắc còn lâu chúng ta mới “nắm” được:

Con ngựa (thật), đá con ngựa (bằng) đá; (chứ) con ngựa (bằng) đá không đá con ngựa (thật)…

Hay như đôi câu đối điệp ngữ khác:

Vợ cả vợ hai, cả hai đều là vợ cả.

Thầy tu thầy chùa, tu chùa cứ việc thầy tu.

Rồi lại còn câu đối dùng cách nói lái mang đậm tính dân gian, cũng dí dỏm vô cùng:

Thầy tu thù tây, cạo đầu cầu đạo.

Thầy giáo tháo giày, vấy đất vất đấy.

Ngẫm ra, người xưa đã để lại cho chúng ta một di sản tuyệt vời!

Bùi Kim Sơn

Tin đọc nhiều

Quay màn hình trên Windows 10 mà không cần phần mềm Nếu đang sử dụng Windows 10, bạn có thể tận dụng nhanh thanh...
Cách khôi phục lại các ứng dụng đã xóa trên Android Chỉ với vài thao tác đơn giản, bạn hoàn toàn có thể phục hồi...
KHCN tuần qua: Nhà khoa học Việt tìm thấy hợp chất đắt hơn vàng 30 ngàn lần Hợp chất Momilactone A và B do nhà khoa học người Việt phát...
Công nghệ 5G của Huawei và cơn ác mộng của phương Tây Mặc dù Huawei đã nhiều lần khẳng định tập đoàn không dính...