Tháng 09, 2019
Thứ hai
Thứ Hai, ngày 01/06/2020 17:14 PM (GMT+7)

Nghề chúng tôi làm đẹp cho đời

PGS.TS Đặng Trấn Phòng đã chia sẻ như vậy sau khi đề cập đến cái nghề mà ông đã và đang theo đuổi - nghề dệt nhuộm.

Ông là một trong những người đầu tiên ở miền Bắc nước ta áp dụng thuốc nhuộm hoạt tính trong Công nghiệp dệt, góp phần đảm bảo cho các mặt hàng dệt may xuất khẩu có độ bền màu với nhiều màu sắc khác nhau. Qua câu chuyện của ông, chúng tôi mới hiểu, ông đã phải trải qua rất nhiều gian khổ trong quá trình học tập, nghiên cứu khoa học và ứng dụng để có được những sản phẩm đầu tiên, những thành công trong ngành Công nghiệp Nhuộm.

Tuổi thơ sóng gió

PGS.TS Đặng Trấn Phòng quê gốc Hà Nam, sinh ngày 19/2/1939 tại Hải Phòng, là con út trong một gia đình có 4 anh chị em. Bố ông là cụ Đặng Văn Cát với 25 năm dạy lớp Nhì năm thứ nhất, lớp Nhì năm thứ 2 của trường Bonnal Hải Phòng, và có rất nhiều học trò thành danh. Ông nhớ, năm 1946 là năm Tổng tuyển cử đầu tiên của nước nhà, không khí thật rộn ràng. Bố ông về quê ứng cử Hội đồng Nhân dân xã và được bầu làm Chủ tịch Uỷ ban Hành chính đầu tiên của xã Trác Văn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.

Hình ảnh làng quê ngày xưa trong ký ức của ông là một làng đông dân, trù phú nằm ven đê sông Hồng, với gần 1000 suất đinh, có nghề trồng dâu, nuôi tằm; trồng ngô, khoai, mía, một năm 2 vụ lúa; tình làng nghĩa xóm đầm ấm, quây quần. Chính vì lẽ đó, dù đi đến đâu ông cũng không thôi nhung nhớ những hình ảnh của quê hương xưa kia.

Ông nói: “Tết ở quê, nhà nào cũng có cây nêu, được ăn bánh chưng rất ngon, tôi không thể tìm lại được dư vị bánh chưng đó khi ở Hà Nội”. Tuy nhiên, giờ trở lại làng quê ông không cảm thấy thích thú như những ngày còn thơ ấu vì nó đã thay đổi quá nhiều, tình người cũng không còn đậm đà như xưa nữa.

Năm 1945, khi đó Đặng Trấn Phòng chưa đầy 6 tuổi đã cùng anh trai Đặng Hải học lớp đồng ấu ở trường Bonnal Hải Phòng. Có một lần viên Thanh tra tiểu học của Hải Phòng người Pháp thạo tiếng Việt đến thấy ông thấp bé, ngồi lọt thỏm trong bàn học, liền cao giọng “Thằng bé con nào lại vào đây!?”. May mắn người giáo viên nói: “Nó học lớp này, là con ông giáo Cát”. Họ bỏ qua và đồng ý cho ông tiếp tục học.

Năm 1946, lúc Pháp quay lại đánh chiếm Hải Phòng, ông về quê học hết lớp 1 ở thôn Tường Thụỵ, xã Trác Văn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Sau khi giặc Pháp đánh đến Hà Nam, gia đình ông tản cư lên Việt Bắc từ năm 1947-1955. Di chuyển nhiều nơi nên khi đến đây, ông không được học ở một trường nào cả. Không để hai em trai bỏ bê việc học hành, sau khi gặp gia đình, người anh cả Đặng Phì lo lắng: “Thế các em định thành dân thiểu số ở đây, không học hành gì cả à!?”

Và người anh cả đã tình nguyện ở lại dạy các em một năm. “Đến bây giờ, tôi cũng không hiểu chúng tôi đã cố gắng như thế nào và anh dạy cả văn và toán - các bài toán lấy từ sách tiếng Pháp giỏi ra làm sao, mà đến kỳ thì sơ học bổ túc (1950) tôi và anh hai đều trúng tuyển, tôi đỗ bình thứ” - PGS.TS Đặng Trấn Phòng nhớ lại.

Nghề chúng tôi làm đẹp cho đời - 1

PGS.TS Đặng Trấn Phòng hồi tưởng về: “Nghề làm đẹp cho đời”

Đến năm 1951, ông theo học lớp 5 ở Bắc Kạn, sau một năm bố ông xin chuyển về Chợ Chu (Định Hóa, Thái Nguyên) để học lớp 6 tại trường cấp II Chợ Chu. Học hết lớp 7, một chuyện bất ngờ đã xảy ra, Đặng Trấn Phòng có nguy cơ không được đi học lớp 8.

Ông kể: “Gia đình tôi chẳng may bị quy thành địa chủ. Tôi không biết, 25 năm dạy học, bố tôi đã chắt bóp như thế nào mà mua được 11 mẫu ruộng ở quê. Trong khi đó, ruộng thì cho người thân cấy, gia đình không hưởng lợi gì cả chỉ sống hoàn toàn bằng đồng lương của bố”.

Chính vì vậy, ở bản Quặng, Định Hóa, bố mẹ ông không được đi đâu cả, chỉ ở nhà trồng su hào, bắp cải, mẹ nuôi lợn và Đặng Trấn Phòng là người gánh rau ra chợ bán để lấy tiền đong gạo. Bản thân ông phải tự đến gặp người đội phó Đội cải cách ruộng đất xin mà mắt rưng rưng “Anh cho tôi đi học tiếp tục”, họ đồng ý ký giấy ông mới được đi học tiếp lớp 8, trường cấp III Ngô Quyền, huyện Phú Lương, Thái Nguyên.

Năm 1955, gia đình ông xin hồi cư nhưng không về quê ngay mà rẽ cầu Đuống về Bắc Ninh, nơi anh cả đang công tác tại Tỉnh đội và xin học lớp 9 tại trường Hàn Thuyên (1955-1956). Ông được hưởng học bổng 2/3 tức 16 cân gạo. Cơm rau muống, đèn dầu, nằm đất.

Những bước ngoặt trên con đường khoa học

Năm 1956, Đặng Trấn Phòng thi đỗ vào trường Đại học Bách khoa Hà Nội, cũng như bao thanh niên khác, bước chân vào giảng đường là một niềm hạnh phúc và mang theo biết bao hy vọng. Ông được phân công vào học Khoa Công nghiệp nhẹ.

Đến khi trường phân chia chuyên ngành, ông bị chuyển qua ngành Nhuộm, sau thuộc Khoa Hóa, ông thất vọng và tinh thần gần như suy sụp vì không hiểu gì về ngành này. Thắc mắc ngành nghề suốt trong 2 năm học đầu mặc dù cả Thiếu tướng Trần Đại Nghĩa (Hiệu trưởng trường lúc đó) lên thuyết phục nhưng ông và các sinh viên khác vẫn không thông vì chưa thấy đây là một ngành hay.

Đến năm học thứ 3, có một nhóm chuyên gia Liên Xô sang giảng dạy. Ngành ông theo học có nữ PGS Sikanova - một nhà giáo hết sức nhiệt tình. Bà đã đưa ra chương trình cho các sinh viên xuống Nam Định để học, sáng học lý thuyết tại Hội trường của Văn phòng Đảng uỷ, chiều xuống Xưởng học thực hành.

Bà Sikanova đã truyền nhiệt huyết cho các sinh viên về ngành Nhuộm, từ đó không ai còn thắc mắc về nghề nghiệp nữa mà chỉ biết lao vào học tập. PGS.TS Đặng Trấn Phòng xúc động nói: “Ấn tượng của bà không bao giờ phai mờ trong trí óc của chúng tôi. Không có bà thì không có chúng tôi - những Kỹ sư Hoá nhuộm đầu tiên của Việt Nam. Bản thân tôi không bao giờ quên được bà”.

Tốt nghiệp Đại học, ông được phân về Nhà máy Tơ Nam Định làm cán bộ kỹ thuật; rồi được bổ nhiệm làm Phó Quản đốc phân xưởng Nhuộm-In hoa rồi Trưởng ngành Nhuộm Nhà máy Tơ (nay là Công ty Dệt Lụa) Nam Định.

Đến năm 1970, ông được Vụ Tổ chức, Bộ Công nghiệp nhẹ đề nghị với Đảng uỷ Nhà máy cử ông đi học Nghiên cứu sinh ở nước ngoài. Quyết định do Thứ trưởng Vũ Tuân đã ký vào tháng 10/1970. Lúc đầu, ông học chuyên tu tiếng Đức tại trường Đại học Ngoại ngữ để sang Đức với dự định cho ông học ngành Cơ nhuộm vì Hoá nhuộm đã có nhiều học viên nghiên cứu. Ông phải học rất vất vả, nhưng đến khi học tiếng xong thì Đức lại không nhận đào tạo 4 ngành trong đó có ngành của ông đang dự định theo học nên sau đó ông được chuyển hướng đi Tiệp Khắc.

Đến ngày 10/10/1971, ông rời ga Hàng Cỏ, đi tàu liên vận lên đường sang Tiệp. Với vốn tiếng Nga cơ bản nên sang Tiệp, ông và các nghiên cứu sinh Việt Nam khác học tương đối nhanh vì 60-70% tiếng Tiệp giống tiếng Nga. Chỉ sau gần 7 tháng, ông có thể giao tiếp với thầy hướng dẫn và ông bắt đầu làm nghiên cứu sinh tại trường Liberec.

PGS.TS Đặng Trấn Phòng cho biết: “Nghề chúng tôi là làm đẹp cho đời” bởi vì lúc đó ở nhà máy chỉ nhuộm các màu cho lụa xuất khẩu sang Mông Cổ và lụa đen bằng thuốc nhuộm trực tiếp. Các màu này không được bền, ông nghĩ cần phải nghiên cứu để tăng độ bền màu và làm được nhiều màu hơn nữa.

Sang Tiệp, ông trình bày hướng nghiên cứu của mình với GS J.Rais là một nhà chuyên môn rất uyên bác, có tầm nhìn xa trông rộng, nhưng rất không may cho ông, Giáo sư này đã mất quyền giảng dạy và hướng dẫn nghiên cứu sinh vì lý do chính trị.

Nghề chúng tôi làm đẹp cho đời - 2

PGS Đặng Trấn Phòng giới thiệu cuốn sách Cẩm nang Kỹ thuật nhuộm do ông và cộng sự biên soạn 

Vì vậy, trường Liberec đã chỉ định GS Radko Krcma - một người không thuộc ngành của ông làm người hướng dẫn. Tuy nhiên, rất may mắn cho Đặng Trấn Phòng khi đó trường Liberec không đủ điều kiện để ông nghiên cứu và ông đã được liên hệ chuyển xuống Trung tâm phối màu Tiệp Khắc cách trường 100km để làm việc.

Ông như “chuột sa chĩnh gạo” được sự ưu ái, cần biết gì, giúp đỡ gì thì được giúp đỡ chỉ bảo từ nhân viên chuyên nghiệp, kỹ sư đến Giám đốc của Trung tâm. Ở Việt Nam nghề Nhuộm này chưa phát triển, phương tiện máy móc thiếu thốn. Sang đó ông như bị choáng ngợp trước mức độ chuyên nghiệp, hiện đại của Trung tâm phối màu Tiệp Khắc và ông được tiếp xúc với những con người hết sức nhiệt tình.

Khi đến nghiên cứu tại Trung tâm, ông được khuyên nên chuyển đề tài vì nhiều lý do và ông đã đề nghị được chuyển đề tài sau khi được sự đồng ý của Đại sứ quán. Đặng Trấn Phòng đã trình bày hướng đề tài mới về thuốc nhuộm hoạt tính với TS V.Hladik.

PGS.TS Đặng Trấn Phòng kể: “Lúc đó trên thế giới có quan niệm vì thuốc nhuộm hoạt tính có liên kết cộng hoá trị với xenlulo nên giặt không phai màu và chính sự liên kết này sẽ tăng độ bền màu với ánh sáng”. Tuy nhiên, TS V.Hladik nghi ngờ về điều đó và nói: “Anh cứ làm đi rồi sẽ thấy”. Do đó, ông vững tâm nghiên cứu làm luận án của mình.

Tại Trung tâm, ông học tập từ nhân viên thí nghiệm trở đi, có lúc họ bực bội: “Anh làm thế này à”, làm đến đâu phải gọn đến đó. Ông học từ tác phong của nhân viên thí nghiệm đến người phụ đạo, người thầy và đặc biệt là ông rất chịu khó đọc tài liệu. Thầy hướng dẫn nhờ các Viện nghiên cứu ở Tiệp Khắc lập cho ông vài trăm đầu mục tài liệu bằng các thứ tiếng Đức, Anh, Nga, Tiệp, ông bắt buộc phải đọc. Từ đó mới biết người ta làm những gì, làm đến đâu, chỗ nào trống còn phải làm, có cơ sở lý thuyết vững vàng mới tiến hành nghiên cứu được.

Năm 1976, ông bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ với đề tài “Nghiên cứu phân huỷ quang hoá thuốc nhuộm hoạt tính trên vật liệu xenlulô” tại trường Đại học Máy và Dệt Liberec. Đóng góp đáng kể trong luận án của ông là đã chứng minh liên kết cộng hóa trị không phải là nguyên nhân chủ yếu tăng độ bền màu ánh sáng mà chính là gốc mang màu của thuốc nhuộm.

Chỉ khi gốc mang màu đó kết hợp với nhóm hoạt tính mới tăng độ bền màu ánh sáng. PGS.TS Đặng Trấn Phòng trở thành một trong những người đầu tiên có công đưa thuốc nhuộm hoạt tính áp dụng vào miền Bắc nuớc ta, góp phần làm cho các mặt hàng dệt may xuất khẩu đảm bảo độ bền màu tốt với nhiều màu.

Sau khi về nước, ông được phân công về công tác tại Viện Công nghệ Dệt – Sợi, trong suốt 22 năm làm việc tại đây ông đã có một số đóng góp đáng kể cho ngành Nhuộm Việt Nam. Đặc biệt, ông đã thực hiện và hướng con trai nghiên cứu thành công phương pháp xử lý khử màu có hiệu quả nước thải nhuộm, chứa thuốc nhuộm hoạt tính vừa góp phần “làm đẹp cho đời” bằng những sản phẩm nhiều màu sắc đồng thời giảm tối đa ô nhiễm môi trường.

Hoàng Thị Liêm - Trình Sỹ Anh Dũng (Trung tâm Di sản các nhà khoa học Việt Nam)

Tin đọc nhiều

Chum, vại, lu... tái xuất Thời ấy công năng của lu là chứa, từ nước tới mắm tới tương...
Những nghiên cứu vượt thời gian Kết quả 40 năm nghiên cứu về sỏi đường mật của GS Phạm Văn...
Thế nào là báo lá cải? Chức năng cao nhất của báo chí dù "tà" hay "chính" vẫn là cung...
Pin chết, vứt ở đâu? Tháng trước, sau khi thay pin đồng hồ, tôi băn khoăn không...